Trong giao dịch dân sự, thoả thuận đặt cọc được thực hiện nhằm bảo đảm việc giao kết và thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, không ít trường hợp bên nhận tiền đặt cọc sau đó không thực hiện hợp đồng, có dấu hiệu né tránh, bỏ trốn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho bên còn lại. Điều này đặt ra câu hỏi pháp lý quan trọng: hành vi nhận tiền đặt cọc rồi không thực hiện hợp đồng chỉ là tranh chấp dân sự hay có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự? Việc phân định đúng bản chất pháp lý của hành vi có ý nghĩa quyết định trong việc ra phương án bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia giao dịch. Liên hệ tới Luật Hùng Bách theo Hotline 0983.499.828 (zalo) để được tư vấn cụ thể.
Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, đặt cọc được hiểu là việc một bên (bên đặt cọc) giao cho bên kia (bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn nhằm bảo đảm việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Tài sản dùng để đặt cọc thường là tiền nhưng có thể là vật có giá trị khác nếu các bên thỏa thuận.
Như vậy, có thể hiểu đặt cọc là một biện pháp bảo đảm để các bên có ý thức, trách nhiệm thực hiện việc giao kết một hợp đồng nào đó trong tương lai. Tiền đặt cọc là phương tiện để các bên thực hiện biện pháp bảo đảm đó. Trong hầu hết các giao dịch đặt cọc, việc đặt cọc thường được thực hiện bằng tiền, rất ít khi các bên thoả thuận đặt cọc bằng một loại tài sản khác.
Sau khi các bên đã giao kết hoặc thực hiện hợp đồng được bảo đảm ban đầu, số tiền đặt cọc này có thể được hoàn lại hoặc khấu trừ luôn vào khoản phí thực hiện nghĩa vụ của các bên theo Hợp đồng được bảo đảm.
Về bản chất, thoả thuận đặt cọc là giao dịch dân sự. Nếu một trong các bên không thực hiện thoả thuận đặt cọc thì phải chịu trách nhiệm theo quyền – nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc đó. Điều đó có nghĩa nếu bên nhận cọc đã nhận tiền đặt cọc nhưng không thực hiện hợp đồng thì sẽ thuộc về tranh chấp dân sự thông thường. Do đó, không phải mọi trường hợp nhận tiền đặt cọc rồi không thực hiện hợp đồng đều cấu thành tội hình sự. Phần lớn là tranh chấp dân sự, được giải quyết bằng cách hoàn trả tiền, phạt cọc, bồi thường thiệt hại hoặc buộc thực hiện hợp đồng,…
Hành vi này bị hình sự hoá khi việc nhận cọc không thực hiện hợp đồng có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ví dụ như hành vi nhận cọc rồi bỏ trốn có thể đủ yếu tố cấu thành tội hình sự, thường là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự. Bên nhận cọc có ý muốn chiếm đoạt tiền đặt cọc ngay từ đầu, dùng thủ đoạn gian dối, che giấu sự thật, hoặc nhận cọc rồi bỏ trốn. Vì vậy việc có phạm tội hình sự hay không phụ thuộc vào ý chí chủ quan (có mục đích chiếm đoạt tiền) và thủ đoạn khách quan của người nhận cọc.
Bước đầu, để xác định hành vi nhận tiền đặt cọc rồi không thực hiện hợp đồng có dấu hiệu phạm tội hình sự hay không cần kiểm tra hai nhóm yếu tố: Yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan
Hành vi có thể bị coi là phạm tội nếu người nhận cọc có ý định chiếm đoạt tiền đặt cọc ngay từ khi giao dịch, hoặc nảy sinh ý định chiếm đoạt sau khi ký Hợp đồng đặt cọc. Tức là người nhận cọc không có ý thực hiện hợp đồng mà các bên đảm bảo thực hiện hoặc sẽ tìm cách né tránh. Dấu hiệu: nhận nhiều cọc rồi biến mất; sử dụng thông tin giả, giấy tờ giả để thuyết phục nhiều người đặt cọc; cam kết công chứng/chuyển nhượng nhưng không có ý định thực hiện;…
Người nhận cọc dùng thủ đoạn gian dối: hứa hẹn về những ưu đãi khi thực hiện hợp đồng để người đặt cọc xuống tiền đặt cọc; dùng văn bản giả, giấy tờ giả để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng; mạo danh công ty/tổ chức không có thực hoặc có thực nhưng không có liên quan để giao dịch; cung cấp thông tin sai trái để chiếm đoạt tiền đặt cọc;… Đây được coi là thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản và nếu có căn cứ chứng minh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nhận được tài sản của người khác bằng hợp đồng nhưng sau
Còn số tiền đặt cọc bị chiếm đoạt được coi là giá trị tài sản bị thiệt hại và sẽ là yếu tố quyết định đến khung hình phạt cho người nhận cọc khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trường hợp 1: Bên A nhận 100 triệu đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất; do vướng quy hoạch không thể chuyển nhượng; A chủ động thông báo, trả lại cọc, hai bên thỏa thuận bồi thường => tranh chấp dân sự.
Trường hợp 2: Bên B quảng cáo bán lô đất không thuộc quyền, nhận tiền đặt cọc của nhiều người rồi tắt máy, không trả lại => có dấu hiệu phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Xử lý hành vi nhận tiền đặt cọc rồi không thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào việc xác định đó là tranh chấp dân sự hay có dấu hiệu phạm tội hình sự. Mỗi loại sẽ có phương án giải quyết khác nhau.
Căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015:
… nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Do đó, trong tranh chấp dân sự, biện pháp chủ yếu là yêu cầu trả lại tiền đặt cọc, phạt cọc theo quy định pháp luật hoặc theo thoả thuận của các bên, yêu cầu bồi thường thiệt hại, buộc thực hiện hợp đồng nếu có thể.
Nếu hành vi chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự như số tiền đặt cọc chiếm đoạt có giá trị nhỏ hoặc có yếu tố khác, có thể bị xử phạt hành chính theo các quy định liên quan. Theo Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP mức xử phạt hành chính với hành vi nhận tiền đặt cọc rồi không thực hiện hợp đồng nhằm chiếm đoạt tiền đặt cọc được thực hiện như sau:
Khi có dấu hiệu phạm tội hình sự, cơ quan điều tra có thể khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Hai tội danh có thể bị xem xét để áp dụng xử lý đối với hành vi này gôm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 và Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175.
Trả lại tiền đặt cọc có thể là một tình tiết quan trọng để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên đây chỉ là tình tiết để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chứ không phải tình tiết để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự.
Đối với các tội phạm hình sự, việc khắc phục hậu quả như trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại cho bị hại là một trong những tình tiết có thể được xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc là điều kiện để được áp dụng hình phạt nhẹ hơn, thậm chí miễn truy cứu trong một số trường hợp rất cụ thể. Tuy nhiên, quyền lợi này phụ thuộc vào: mức độ thiệt hại, thời điểm khắc phục (trước hay sau khi cơ quan điều tra vào cuộc), thái độ nhận tội, và các tình tiết tăng nặng khác.
Liên hệ Luật sư hình sự Luật Hùng Bách theo Hotline 0983.499.828 (zalo) để được tư vấn cụ thể.
Nếu không may rơi vào tình huống tranh chấp tiền đặt cọc, việc thuê luật sư là rất cần thiết. Luật sư sẽ hỗ trợ những công việc sau:
Nhận tiền đặt cọc rồi không thực hiện hợp đồng không đương nhiên là hành vi phạm tội mà trước hết cần được xem xét trong khuôn khổ pháp luật dân sự. Chỉ khi có đủ dấu hiệu về mục đích chiếm đoạt, thủ đoạn gian dối thì mới có căn cứ xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, việc đánh giá toàn diện bản chất hành vi, chứng cứ và hoàn cảnh cụ thể là yếu tố then chốt để lựa chọn hướng xử lý phù hợp, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Liên hệ tới Luật sư của chúng tôi tại Văn phòng, chi nhánh ở: Hà Nội; TP. Hồ Chí Minh; Đà Nẵng, Khánh Hòa; Hà Tĩnh; Nhật Bản;… theo các phương thức sau:
Trân trọng!
Tố giác tội phạm là một trong những quyền và nghĩa vụ quan trọng của…
Trong thực tiễn, hành vi hủy hoại tài sản của người khác diễn ra khá…
Trong thực tiễn đời sống xã hội, các tranh chấp và vi phạm liên quan…
Trong thời điểm kinh tế gặp nhiều khó khăn, không ít cá nhân và doanh…
Hoạt động cho vay nặng lãi ngày càng diễn ra phổ biến, đặc biệt là…
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, rất…