Hành vi giật tài sản là một trong những hành vi xâm phạm quyền sở hữu được quy định và xử lý nghiêm theo Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều trường hợp mà đối tượng giật được tài sản rồi vứt bỏ vì sợ phát hiện hay bị truy đuổi hoặc tài sản chiếm đoạt không được như dự tính. Vì vậy, câu hỏi thường gặp là: Giật được tài sản rồi vứt bỏ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Liên hệ Luật sư Luật Hùng Bách theo Hotline 0983.499.828 (zalo) để được hướng dẫn chi tiết về thủ tục này.
Giật tài sản rồi vứt bỏ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Trước hết, để trả lời được câu hỏi này, cần làm rõ: Thế nào là hành vi giật tài sản?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), có thể hiểu hành vi cướp giật tài sản là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của người khác. Đó là lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để nhanh chóng tiếp cận, chiếm đoạt rồi tẩu thoát. Với thủ đoạn nhanh chóng, gây bất ngờ cho chủ tài sản như vậy, người phạm tội mong muốn chủ tài sản không có điều kiện phản ứng kịp thời, ngăn cản việc chiếm đoạt.
Với tội danh này, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi với mục đích chiếm đoạt, dù chưa có được tài sản cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Cho nên, việc giật được tài sản rồi vứt bỏ, không mang tài sản đi, không hưởng lợi từ tài sản vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bởi:
- Hành vi giật tài sản đã được hoàn thành từ thời điểm người phạm tội chiếm được tài sản khỏi sự quản lý của chủ sở hữu.
- Việc sau đó người phạm tội vứt bỏ, hay thả xuống đất hoặc ném đi không làm thay đổi bản chất của hành vi chiếm đoạt
- Hành vi vứt bỏ thường chỉ nhằm trốn tránh khi bị phát hiện, hoặc do sợ hãi mà không phải thể hiện sự tự nguyện, tự ý khắc phục hậu quả.
Phạm tội cướp giật tài sản bị xử lý như thế nào?
Hành vi cướp giật tài sản có thể bị xem xét để xử lý theo Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cụ thể:
- Với khung cơ bản: Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: Nếu có thêm các tình tiết tăng nặng như Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Dùng thủ đoạn nguy hiểm;…
- Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: nếu phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;…
- Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; Làm chết người; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp;…
- Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Trường hợp nào không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Tội cướp giật tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất. Tội phạm này hoàn thành khi người phạm tội đã giật được tài sản ra khỏi sự quản lý của chủ sở hữu, dù cho tài sản đó giá trị lớn hay nhỏ. Do đó, các trường hợp người phạm tội cướp giật tài sản đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về độ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự với các trường hợp sau đây không bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
- Người dưới 14 tuổi phạm tội
- Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội ở mức ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng
- Người không có năng lực trách nhiệm hình sự
Cụ thể, căn cứ vào Điều 12 BLHS năm 2015, người dưới 14 tuổi phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà sẽ bị áp dụng xử phạt bằng các biện pháp hành chính. Với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi cướp giật tài sản chưa đến mức rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Ngoài ra, nếu người phạm tội thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự như đang mắc bệnh tâm thần, mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thực hiện hành vi giật tài sản rồi vứt bỏ.
Bị điều tra vì cướp giật nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản phải làm gì?
Như đã phân tích ở trên, người thực hiện hành vi cướp giật dù chưa chiếm đoạt được tài sản, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt thì người phạm tội trong trường hợp này vẫn bị xem xét xử lý hình sự nhưng với mức hình phạt nhẹ hơn so với trường hợp tội phạm hoàn thành.
Ví dụ: Mai đang chạy xe máy trên đường quốc lộ, trên người có đeo 1 chiếc túi xách nhỏ đựng điện thoại và tiền mặt. Hùng nhìn thấy Mai và có ý định cướp giật túi xách để lấy tài sản. Hùng chạy xe theo Mai và áp sát xe Mai để thực hiện hành vi giật túi xách. Tuy nhiên do quai túi chắc chắn, và Mai phản ứng kịp thời nên túi xách chưa bị Hùng lấy đi. Trong tình huống này, Hùng đã thực hiện hành vi cướp giật nhưng do lý do khách quan ngoài ý muốn mà chưa chiếm đoạt được tài sản. Hùng vẫn sẽ bị xử lý hình sự theo Tội cướp giật tài sản ở mức độ phạm tội chưa đạt.
Nên làm gì khi bị điều tra?
Ngay cả trong trường hợp cướp giật nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội cũng cần thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại nếu có để có căn cứ làm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 BLHS năm 2015, từ đó nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Hơn nữa, khi đứng trước nhiều rủi ro pháp lý: dễ khai báo sai, không nắm rõ quyền lợi của mình hoặc bị áp dụng khung hình phạt bất lợi…người bị điều tra nên mời Luật sư càng sớm càng tốt để được hỗ trợ và bảo vệ tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân. Sự tham gia kịp thời của Luật sư có thể giúp giảm nhẹ đáng kể hình phạt hoặc thay đổi hướng xử lý có lợi nhất cho người bị điều tra/buộc tội.
Luật sư hình sự của Luật Hùng Bách có kinh nghiệm nhiều năm trong các vụ án liên quan đến Tội cướp giật tài sản. Luôn sẵn sàng hỗ trợ khách hàng kịp thời làm việc với cơ quan điều tra, phân tích chứng cứ, đưa ra chiến lược bào chữa phù hợp trong suốt quá trình tố tụng, đảm bảo cho khách hàng hướng xử lý an toàn và hiệu quả nhất.
Liên hệ Luật sư bào chữa hình sự Luật Hùng Bách
Các vụ án liên quan đến Tội cướp giật tài sản, giật được tài sản rồi vứt bỏ, hay chưa chiếm đoạt được tài sản thường có nhiều tình tiết phức tạp, dễ dẫn đến định sai tội danh hoặc áp dụng không đúng khung hình phạt. Với việc thuê Luật sư giỏi chuyên về hình sự, khách hàng sẽ nhận được sự hỗ trợ pháp lý kịp thời, hiệu quả, đảm bảo được tối đa quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Trên đây là toàn bộ nội dung của bài viết Giật được tài sản rồi vứt bỏ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? của Luật sư Hình sự – Luật Hùng Bách. Trường hợp bạn cần tư vấn, hỗ trợ tư vấn chuyên sâu hãy liên hệ ngay với chúng tôi tại các văn phòng, chi nhánh ở TP. Hà Nội, Hà Tĩnh, TP. Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh theo các phương thức sau:
- Email: Luathungbach@gmail.com
- Điện thoại: 0983.499.828 (Zalo)
- Fanpage: https://www.facebook.com/LuatHungBach
- Website: https://luathungbach.vn/
Trân trọng!

