Hôn nhân thực tế là gì?


Hôn nhân là mối quan hệ của vợ chồng sau khi kết hôn. Việc đăng ký kết hôn là rất quan trọng vì đó là cơ sở để pháp luật thừa nhận và bảo vệ quan hệ vợ chồng hợp pháp. Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều cặp vợ chồng sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn mà vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp. Hiện tượng pháp luật đó được gọi là hôn nhân thực tế. Vậy Hôn nhân thực tế là gì? Những trường hợp nào nam nữ sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn mà vẫn được công nhận là vợ chồng? Hiện nay quy định của pháp luật về vấn đề hôn nhân thực tế như thế nào? Không có đăng ký kết hôn có ly hôn được không? Để có thêm những hiểu biết về vấn đề trên, mời bạn tham khảo bài viết sau đây của Luật Hùng Bách về vấn đề “Hôn nhân thực tế” ở Việt Nam.

Hôn nhân thực tế là gì?

Hiện nay, các văn bản pháp luật hiện hành chưa đưa ra khái niệm thế nào là hôn nhân thực tế. Tuy nhiên, dựa vào các quy định pháp luật điều chỉnh về vấn đề này thì có hai phương diện chính cần phải xem xét, cụ thể như sau:

- Thứ nhất, về mặt hình thức: Việc sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn của hai bên nam, nữ phải được thực hiện trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, tức là trước thời điểm Luật hôn nhân gia đình năm 1986 có hiệu lực.

- Thứ hai, về mặt nội dung: Tại thời điểm sống chung với nhau như vợ chồng, hai bên nam, nữ phải đáp ứng các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Cụ thể, tại điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03 tháng 01 năm 2001 thì “Được coi là nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
  • Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
  • Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
  • Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình”.

Từ sự phân tích trên có thể kết luận lại rằng: Hôn nhân thực tế là việc hai bên nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987,  mặc dù có đủ điều kiện kết hôn nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

Hôn nhân thực tế có được pháp luật công nhận?

Hôn nhân thực tế có được công nhận?

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, để được coi là hôn nhân thực tế thì cần phải đáp ứng cả yếu tố về hình thức và yếu tố về nội dung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, “Đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng”. Phân tích từ điều luật trên có thể thấy rằng đối với những trường hợp được coi là hôn nhân thực tế thì việc đăng ký kết hôn đặt ra chỉ mang ý nghĩa “khuyến khích” chứ không hề mang tính bắt buộc. Trong trường hợp đăng ký kết hôn thì thủ tục sẽ được thực hiện như đối với việc đăng ký kết hôn theo Pháp luật về Hộ tịch hiện hành. Nếu không tiến hành đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ngoài ra, tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 cũng có những quy định tương tự như điều luật chúng tôi vừa trích dẫn cũng có giá trị thừa nhận quan hệ hôn nhân thực tế.

Tóm lại, có thể khẳng định rằng, hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận và nam, nữ trong cuộc hôn nhân thực tế đó được pháp luật thừa nhận là vợ chồng hợp pháp.

Quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014 về hôn nhân thực tế.

Hiện nay, trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không có điều luật nào quy định trực tiếp về “hôn nhân thực tế”. Tuy nhiên, không phải các nhà làm luật đã bỏ qua chế định này mà nó được thể hiện bằng một cách khác. Theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về điều khoản chuyển tiếp có quy định:

“Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”.

Ở đây, cần lưu ý rằng quy định trên là quy định về “điều khoản chuyển tiếp” hay còn gọi là “quy định hồi tố”. Đây là quy định về những trường hợp phải áp dụng pháp luật cũ hay những quan hệ pháp luật được xác lập trước thời điểm pháp luật mới có hiệu lực thì khi nào áp dụng pháp luật cũ, khi nào áp dụng pháp luật mới. Do đó, hôn nhân thực tế sẽ không được quy định trực tiếp tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 mà sẽ áp dụng quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết.

Nghị quyết 35 hướng dẫn về hôn nhân thực tế.

Do hôn nhân thực tế là quan hệ được nam, nữ xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 và hiện nay Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không có quy định trực tiếp nên những vấn đề pháp lý có liên quan đến hôn nhân thực tế sẽ áp dụng quy định của Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 35) để giải quyết. Kèm theo đó là Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 (sau đây gọi tắt là thông tư 01).

Nghị quyết 35 được thông qua cùng thời điểm thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và có chức năng hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Theo đó, tại điểm a khoản 3 của Nghị quyết có quy định như sau:

Việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này được thực hiện như sau:

"Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”.

Đồng thời, tại Mục 1 Thông tư 01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35 có quy định như sau:

“Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.”

Như vậy, những quy định pháp luật trên là căn cứ pháp lý để các cơ quan nhà nước thừa nhận hôn nhân thực tế là hợp pháp và bảo vệ mối quan hệ đó. Ngoài ra, nhà nước cũng khuyến khích và tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng thuộc trường hợp hôn nhân thực tế tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc đăng ký này sẽ giúp quá trình quản lý của nhà nước về hộ tịch dễ dàng và thuận lợi hơn.

Ngược lại, những trường hợp sống chung với nhau như vợ chồng từ sau ngày 03 tháng 01 năm 1987 (tức là không đáp ứng yếu tố về hình thức của hôn nhân thực tế) nếu muốn được nhà nước thừa nhận là vợ, chồng hợp pháp thì phải tiến hành đăng ký kết hôn trong vòng 2 năm kể từ thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực. Nếu từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

Thủ tục xin xác nhận hôn nhân thực tế.

Thủ tục xin xác nhận hôn nhân thực tế là việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác minh việc chung sống của nam, nữ đó là hôn nhân thực tế, qua đó công nhận họ là vợ, chồng hợp pháp.

Ví dụ: A và B chung sống với nhau từ năm 1984 và có con chung từ năm 1985, đến đầu năm 2020, A phát hiện B có hành vi ngoại tình với C. Trong trường hợp này, để được pháp luật bảo vệ mối quan hệ vợ chồng, A phải chứng minh được mình là vợ hợp pháp của B. Tuy nhiên, hai người lại không đăng ký kết hôn và không có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Do đó, A có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận rằng quan hệ giữa A và B là hôn nhân thực tế.

Việc xác nhận hôn nhân thực tế sẽ được thẹc hiện theo trình tự, thủ tục sau:

Thứ nhất,  người có yêu cầu chuẩn bị hồ sơ. Hồ sơ xin xác nhận hôn nhân thực tế gồm các loại giấy tờ sau:

  • Chứng minh thư nhân dân/căn cước công dân;
  • Sổ hộ khẩu;
  • Tờ khai cấp giấy xác nhận hôn nhân thực tế.

Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định về mẫu tờ khai cấp giấy xác nhận hôn nhân thực tế. Nếu có nhu cầu, bạn có thể tham khảo mẫu dưới đây của chúng tôi.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

  ———————

TỜ KHAI CẤP GIẤY XÁC NHẬN HÔN NHÂN THỰC TẾ

Kính gửi: ......................................................................................................................

Tôi tên là: .....................................................................................................................

Dân tộc: ................................................ Quốc tịch: .....................................................

Nơi cư trú: ....................................................................................................................

Đề nghị cấp Giấy xác nhận hôn nhân thực tế cho người có tên sau đây:

Họ và tên: .....................................................................................................................

Sinh ngày................................................ tại: ...............................................................

Chứng minh thư nhân dân số: ......................................................................................

Hiện nay đang cư trú tại: ..............................................................................................

Họ và tên: .....................................................................................................................

Sinh ngày................................................ tại: ...............................................................

Chứng minh thư nhân dân số: ......................................................................................

Hiện nay đang cư trú tại: ..............................................................................................

Tình trạng hôn nhân: .................................................................................................... 

Tôi cam đoan những nội dung khai trên đây là đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình.

..... Ngày ... tháng .... năm .....

Người làm đơn

Một số điểm cần lưu ý khi viết tờ khai xin xác nhận hôn nhân thực tế như sau:

Mục “Kính gửi”: Ghi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người có yêu cầu.

Ví dụ: UBND phường Láng Thượng

Mục “Tình trạng hôn nhân”: Trình bày về các vấn đề sau:

  • Thời điểm bắt đầu sống chung với nhau như vợ chồng;
  • Tình trạng của nam, nữ lúc sống chung với nhau như vợ chồng (độ tuổi, nhận thức, có tự nguyện sống chung với nhau hay không?...);
  • Khi về sống chung với nhau có ai biết không?;
  • Hiện nay tình cảm giữa vợ và chồng như thế nào.

Ví dụ: Tôi và ông Nguyễn Văn H sống chung với nhau từ tháng 3 năm 1984, khi đó tôi  20 tuổi và ông H 23 tuổi. Chúng tôi chung sống với nhau hoàn toàn xuất phát từ tình cảm giữa hai bên, không có sự ép buộc hay lừa dối nào và chúng tôi nhận được sự đồng tình của cả hai bên gia đình. Hiện nay chúng tôi vẫn đang chung sống, yêu thương và chăm sóc lẫn nhau. Do vậy, tôi kính mong UBND xã ... công nhận quan hệ của chúng tôi là hôn nhân thực tế.

Thứ hai, người có yêu cầu nộp hồ sơ tại UBND nơi mình cư trú.

Sau khi nhận được hồ sơ, UBND cấp xã có trách nhiệm xác minh thông tin. Trong trường hợp cần thêm căn cứ thì người có yêu cầu hợp tác và cung cấp theo yêu cầu của cán bộ xã. Trong trường hợp kết quả xác minh thông tin là chính xác và đúng sự thật thì UBND cấp xã tiến hành cấp giấy xác nhận hôn nhân thực tế cho người có yêu cầu. Đây là một căn cứ chứng tỏ rằng nhà nước đã thừa nhận quan hệ vợ chồng hợp pháp của người có yêu cầu.

Thủ tục ly hôn không có đăng ký kết hôn

Phân tích theo quy định của Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì ly hôn khi không đăng ký kết hôn được đặt ra trong ba trường hợp sau:

Thứ nhất, trường hợp hôn nhân thức tế, tức là nam, nữ sống chung với nhau trước ngày 03/01/1987 mặc dù có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn.

Thứ hai, trường hợp nam, nữ sống chung với nhau như vợ, chồng từ sau ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2003 tuy đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn.

Thứ ba, trường hợp nam, nữ sống chung với nhau như vợ, chồng từ sau ngày 03/01/1987 đến sau ngày 01/01/2003 tuy đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn.

Theo đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì trường hợp thứ nhất và trường hợp thứ hai vừa kể trên, việc ly hôn sẽ được thực hiện “theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung”. Tức là việc ly hôn khi không đăng ký kết hôn sẽ được thực hiện như khi có đăng ký kết hôn bình thường. cụ thể, thủ tục ly hôn sẽ diễn ra như sau:

- Bước một, chuẩn bị hồ sơ: người có yêu cầu ly hôn phải chuẩn bị các loại giấy tờ sau:

  • Đơn xin ly hôn;
  • Giấy xác nhận của địa phương về quá trình chung sống của 2 người hoặc giấy xác nhận hôn nhân thực tế;
  • Sổ hộ khẩu (bản sao có công chứng);
  • Chứng minh nhân dân của vợ, chồng (bản sao có công chứng);
  • Giấy khai sinh của con chung (bản sao có công chứng);
  • Giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản (trong trường hợp vợ chồng có yêu cầu tòa án chia tài sản chung của vợ chồng).

- Bước hai, sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, nguyên đơn nộp đơn lên Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết.

- Bước ba, sau khi nhận được hồ sơ đầy đủ Tòa án sẽ ra thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí ly hôn. Trong thời hạn được quy định trong thông báo đương sự phải tiến hành thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí và mang Biên lai thu tiền tạm ứng án phí nộp lại Tòa án.

- Bước bốn, Tòa án tiến hành mở phiên họp hòa giải, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại đây, tòa án sẽ xác minh lại phạm vi yêu cầu khởi kiện, tư cách đương sự tham gia tố tụng, kiểm tra việc giao nộp các chứng cứ mới và công bố các chứng cứ.

- Bước năm, xét xử vụ án ly hộ hoặc ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

  • Đối với thủ tục ly hôn đơn phương, nếu tại buổi hòa giải các bên vẫn không thể hòa giải thành thì tòa án lập Biên bản hòa giải không thành. Sau đó tòa án sẽ có thông báo đưa vụ án ra xét xử để giải quyết vụ án.
  • Đối với trường hợp ly hôn thuận tình nếu các bên không thể đoàn tụ trong buổi hòa giải thì Tòa án sẽ lập Biên bản và trong thời hạn 07 ngày kể từ thời điểm biên bản được lập các bên không có thay đổi thì Tòa án sẽ ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Nếu một trong các bên có sự thay đổi thì tòa án thực hiện các thủ tục cần thiết để đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Về thẩm quyền của Tòa án giải quyết ly hôn cấp sơ thẩm:

Đối với ly hôn đơn phương, thẩm quyền thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú.

Đối với ly hôn thuận tình, thẩm quyền thuộc về Tòa án  nhân dân cấp huyện nơi một trong hai bên vợ chồng cư trú thỏa thuận.

Ngoài ra, trong trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài mà không thuộc trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước láng giềng có nơi cư trú ở biên giới thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

 

Video: Hướng dẫn thủ tục ly hôn.

Thủ tục yêu cầu tòa án không công nhận vợ chồng.

Đối với trường hợp nam, nữ sống chung với nhau như vợ, chồng từ sau ngày 03/01/1987 đến sau ngày 01/01/2003 tuy đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn, mặc dù không được công nhận là vợ chồng nhưng Tòa án vẫn tiến hành thụ lý yêu cầu. Tuy nhiên, điểm khác biệt rõ ràng nhất với hai trường hợp mà chúng tôi nêu trên là trường hợp này sẽ không tiến hành các bước theo thủ tục tố tụng thông thường mà Tòa án sẽ thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Theo đó, thủ tục này sẽ được gọi là “thủ tục yêu cầu không công nhận vợ chồng” thay cho “thủ tục ly hôn”. Cụ thể, thủ tục trên sẽ được tiến hành như sau:

- Bước 01: Chuẩn bị hồ sơ: người có yêu cầu phải chuẩn bị các loại giấy tờ sau:

  • Đơn yêu cầu không công nhận vợ chồng;
  • Giấy xác nhận của địa phương về quá trình chung sống của 2 người;
  • Sổ hộ khẩu (bản sao có công chứng);
  • Chứng minh nhân dân (bản sao có công chứng);
  • Giấy khai sinh của con chung (nếu có);
  • Giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản (nếu có).

- Bước 02: Nguyên đơn nộp hồ sơ đến tòa án có thẩm quyền. Việc nộp hồ sơ có thể thông qua hai con đường là nộp trực tiếp tại tòa án hoặc gửi thông qua đường bưu điện.

- Bước 03: Trong trường hợp Tòa án yêu cầu sửa đổi, bổ xung hồ sơ thì nguyên đơn tiến hành sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu của Tòa án. Trường hợp Tòa án ra thông báo nộp tạm ứng án phí thì nguyên đơn nộp tạm ứng án phí tại cục thi hành án.

- Bước 04: sau khi thụ lí hồ sơ, Tòa án sẽ cho các đương sự hòa giải về việc giải quyết vụ án. Khi có thông báo triệu tập, các đương sự có mặt để hòa giải theo thủ tục của Tòa án.

Sau khi thụ lí hồ sơ và tiến hành phiên hòa giải, Tòa án sẽ tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật. Cụ thể, điều này được ghi nhận tại điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 và tại khoản 2 điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Tóm lại, mặc dù trên thực tế, các vụ ly hôn khi không đăng ký kết hôn, ly hôn khi quan hệ đó là hôn nhân thực tế hiện nay không quá phổ biến, tuy nhiên không vì thế mà pháp luật “bỏ qua” chế định này. Khi phát sinh yêu cầu ly hôn thuộc những trường hợp trên thì vẫn có hành lang pháp lý để giải quyết nhằm đảm bảo sự quản lý của nhà nước đối với xã hội.

Dịch vụ Luật sư ly hôn.

Công ty Luật Hùng Bách là đơn vị có nhiều năm kinh nghiệm trong hoạt động hỗ trợ thủ tục pháp lý về ly hôn. Ngoài việc tư vấn, hỗ trợ kiến thức để bạn có thể tự mình thực hiện thủ tục ly hôn, chúng tôi chuyên cung cấp các dịch vụ hỗ trợ pháp lý đối với các trường hợp ly hôn khi không đăng ký kết hôn, các trường hợp có vướng mắc về hồ sơ giấy tờ, các trường hợp bị đơn không hợp tác, ly hôn với người nước ngoài, ly hôn với người đang chấp hành án phạt tù... khi cung cấp dịch vụ, chúng tôi sẽ đem lại lợi ích tối ưu nhất cho bạn, đồng thời sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian và chi phí khi giải quyết vụ việc.

Trên đây là những chia sẻ của chúng tôi về vấn đề “Hôn nhân thực tế”. Rất mong bài viết trên hữu ích đối với bạn. Nếu có những thắc mắc hoặc có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý, bạn có thể liên hệ ngay với chúng tôi theo số điện thoại 19006194 hoặc gửi thư về địa chỉ gmail: luathungbach@gmail.com để được Luật sư ly hôn tư vấn và hỗ trợ.

Khắc Thượng!

CÔNG TY LUẬT HÙNG BÁCH - LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ VIỆT NAM

Địa chỉ trụ sở chính: Số 91a đường Nguyễn Khang, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội.
Trung tâm tư vấn: Số 89 Hoàng Ngân, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.

Điện thoại: 1900 6194

Email : luathungbach@gmail.com

Website: Luathungbach.vn


Tagss:


Chia sẻ bài viết facebook.png twitter.png google-plus.png


Tìm kiếm





Dịch vụ nổi bật